Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam và triển vọng phát triển trong thời gian tới

Thứ tư - 22/02/2023 10:26

1. Yếu tố ảnh hưởng đến kinh tế thế giới tác động đối với nền kinh tế Việt Nam

Năm 2020, kinh tế toàn cầu phải đối diện với nhiều khó khăn và thách thức do tác động của đại dịch Covid-19. Đại dịch Covid-19 làm đứt gẫy các chuỗi cung ứng, thu hẹp cả tổng cung và tổng cầu, gia tăng rủi ro tài chính đưa kinh tế thế giới vào vòng suy giảm.

Tình hình dịch bệnh vẫn có chiều hướng diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều nước, nhiều khu vực (như châu Âu, Mỹ, Ấn Độ…). Nhiều quốc gia buộc phải tập trung nguồn lực để ứng phó với dịch bệnh...

Thứ nhất, quan hệ kinh tế quốc tế được dự báo sẽ tiếp tục có những biến động và diễn biến khó lường. Xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn sẽ dẫn đến nhu cầu dịch chuyển địa điểm sản xuất để tránh mức thuế cao. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Việt Nam.

Thứ hai, dịch bệnh Covid-19 còn diễn biến phức tạp, khó lường (đặc biệt là sự xuất hiện của các biến chủng mới), luôn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát trở lại. Việc triển khai các vắc-xin đang vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với cả quốc gia, các hãng lớn và các bên liên quan. Các quốc gia hiện nay đang thận trọng triển khai biện pháp ứng phó với dịch bệnh. Việt Nam cũng sẽ bị tác động.

Thứ ba, các quốc gia, các tổ chức quốc tế đang triển khai các gói hỗ trợ kinh tế lớn cũng như các chính sách ứng phó với dịch bệnh, với suy giảm kinh tế. Việc này có thể đạt được những thành công và triển vọng nhưng cũng có thể gây ra những rủi ro không nhỏ đối với thị trường tài chính thế giới và tình trạng nợ toàn cầu. Việt Nam cũng sẽ chịu ảnh hưởng của các gói hỗ trợ này.

Thứ tư, xu hướng giảm đầu tư nước ngoài do dịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thương mại, đình trệ đầu tư, tạo tâm lý e ngại, trì hoãn mở rộng đầu tư của nhiều doanh nghiệp nước ngoài. Nhu cầu tiêu dùng trong nước phục hồi chậm và hoạt động xuất khẩu giảm tiếp tục tạo nhiều thách thức cho hoạt động doanh nghiệp trong nước. Việt Nam là một trong những nước chịu sự tác động này.

Thứ năm, toàn thế giới cũng như các khu vực, mỗi quốc gia luôn tiềm ẩn những thuận lợi và khó khăn mới phát sinh và rất khó lường. Mỗi phát sinh đều có thể tác động đến kinh tế của mỗi quốc gia, khu vực và toàn cầu. Vì vậy, cần theo sát, phát hiện và xử lý cũng như điều chỉnh. Việt Nam rất cần theo dõi sát tình hình, diễn biến.

2. Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay

Sau rất nhiều thăng trầm trong lịch sử, đến nay có thể khẳng định Kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển. Tuy nhiên còn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp, du lịch, xuất khẩu thô và các nguồn đầu tư vốn nước ngoài.

Hệ thống kinh tế Việt Nam là một hệ thống kinh tế hỗn hợp. Khi mà nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển và thị trường hóa thì ta vẫn thấy sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế còn khá cao. Hiện nay, Nhà nước vẫn thực hiện việc điều chỉnh giá cả kiểu hành chính với một số mặt hàng thiết yếu như yêu cầu các công ty, doanh nghiệp điều chỉnh mức đầu tư, giá cả xăng dầu, kiểm soát nguyên vật liệu xây dựng như sắt, xi măng, xi măng…

Chính phủ Việt Nam đã tự xác định và nhận định rằng Việt Nam là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Điều này đã được một số nền kinh tế tiên tiến công nhận, nhưng cho đến nay Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản vẫn chưa thừa nhận và xác định Việt Nam là một nước có nền kinh tế thị trường.

Việt Nam là một nước có nhiều thành phần kinh tế như: Kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản Nhà nước,.. Và những khu vực này có tốc độ tăng trưởng không giống nhau khi mà nền kinh tế Nhà nước và nền kinh tế tập thể tăng trưởng chậm thì nền kinh tế tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài tăng khá nhanh.

Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (3 ngành kinh tế lớn) chính như sau:

- Ngành: Nông nghệp, lâm nghiệp, thủy sản.

- Ngành: Công nghiệp (bao gồm cả công nghiệp khai thác mỏ, khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, điện nước, sản xuấ và phân phối khí…)

- Ngành: Dịch vụ, thương mại, tài chính, du lịch, văn hóa, y tế, giáo dục…

Hiện nay, quy mô nền kinh tế Việt Nam đang nằm trong top 40 nền kinh tế lớn mạnh nhất thế giới và đứng ở vị trí thứ 4 trong ASEAN. Với năm vừa qua 2020, GDP đầu người đạt mức 3.500 USD/năm đã đưa Việt Nam vươn lên top 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất thế giới, là 1 trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới hiện nay.
3. Một số thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.1. Thuận lợi

Hiện nay tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đang có đà tăng trưởng khá ấn tượng và vững chắc. Theo đó, có thể thấy mức độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người từ giai đoạn 2011 – 2015 đã thay đổi rõ nét và cho đến nay mức tăng ấy luôn giữ được đúng mục tiêu đề ra. Theo U.S. News & Wold Report, Việt Nam hiện nay đang có một môi trường ổn định và tích cực về cả kinh tế và chính trị, duy trì mức tăng trưởng GDP ổn định, kiểm soát tốt lạm phát và các chính sách cải thiện nợ xấu, thâm hụt ngân sách cũng được để ra một cách hợp lý.

Việt Nam cũng là một trong những nước luôn có thành tích tốt trong việc xuất siêu. Nhiều mặt hàng của Việt Nam với số lượng lớn liên tục thâm nhập vào các thị trường lớn trên thế giới và được đón nhận một cách khá tốt.

Không chỉ vật thu nhập bình quân đầu người cũng tăng lên rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 1.45%. Việt Nam đã tạo nên một huyền thoại trong công tác giảm nghèo khi chỉ số HDI năm 2019 là 0.63%, một trong những nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất thế giới.

Ngoài ra những thuận lợi còn đến từ cuộc cách mạng 4.0, cũng như sự gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế lớn trên thế giới nhu Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVTFTA) và hiệp định đối tác Toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).

3.2. Những hạn chế và khó khăn

Thách thức lớn nhất mà nền kinh tế nước ta đang gặp phải đó là nền kinh tế thế giới có độ mở cao, Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp từ xu hướng tăng trưởng chậm của nền kinh tế thế giới và việc nới lỏng tiền tệ của một số nước lớn. Tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - trung, các khoản nợ xấu tăng cao…

Việt Nam còn chịu những tác động của xu thế đa cực, gia tăng tính kết nối khu vực, sự nổi lên của Châu Á và các sự chuyển cơ cấu kinh tế.

Bên cạnh những thuận lợi và các kết quả to lớn nước ta đã đạt được trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế. tuy nhiên chúng ta vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cũng như thử thách trong việc phát triển một nền kinh tế bền vững và đạt được những mục tiêu kinh tế đã đặt ra.

Thứ nhất, quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế chưa được đồng bộ và đạt được các kết quả mạnh mẽ trong lĩnh vực hoàn thiện nền kinh tế thị trường. Các hệ sinh thái nuôi dưỡng doanh nghiệp để phát triển chưa có nhiều tiến bộ vượt bậc. Các bất cập về thể chế đất đai, quyền tài sản,… vẫn rất chậm trong quá trình giải quyết thủ tục và các vấn đề liên quan dẫn đến những hạn chế cho sản xuất.

Thứ hai, Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng không phải chỉ tạo ra cơ hội cho kinh tế Việt Nam phát triển, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến, mà cũng tạo cho Việt Nam nhiều thách thức lớn phải vượt qua và chỉ khi vượt qua những thách thức này mới nắm bắt được cơ hội, chuyển cơ hội thành hiện thực. Thách thức rất lớn đối với Việt Nam là vấn đề tốc độ phát triển rất nhanh của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, của những thay đổi, phát triển công nghệ diễn ra nhanh chóng trên thế giới. Theo kịp tốc độ phát triển này đối với Việt Nam là một thách thức lớn. Hơn nữa, trong khi ở Việt Nam, hệ thống thể chế cho các hoạt động, các lĩnh vực, các mô hình kinh doanh mới, việc bảo vệ sở hữu trí tuệ, bảo vệ người tiêu dùng, xử lý tranh chấp,… việc quản lý các hoạt động kinh tế, sinh hoạt xã hội trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư còn chưa hình thành; việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, phát triển khoa học - công nghệ, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng… đáp ứng đòi hỏi phát triển kinh tế đất nước trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng không phải là nhiệm vụ đơn giản, dễ dàng.

Thứ ba, Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng sẽ đặt doanh nghiệp Việt Nam, các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam trước thách thức phải cạnh tranh quyết liệt với các doanh nghiệp, các sản phẩm hàng hóa của nước ngoài không chỉ ở thị trường nước ngoài mà ngay cả ở thị trường trong nước của Việt Nam; trong khi các doanh nghiệp Việt Nam phổ biến là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trình độ công nghệ thấp, năng lực tài chính hạn chế, phải cạnh tranh với những doanh nghiệp lớn, công nghệ cao, tiềm lực tài chính hùng hậu, có những sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, hiện nay, phần lớn là ở những công đoạn có trình độ công nghệ thấp, gia công, lắp ráp.

Thứ tư, các vùng kinh tế trọng điểm vẫn chưa phát huy được tối đa vai trò cũng như động lực tăng trưởng của mình.

Thứ năm, về cơ cấu kinh tế đang  có sự dịch chuyển kém lành mạnh, không cân bằng và dễ tổn thương hơn trước đó.

Thứ sáu, sự bùng phát dịch COVID-19 đã mang lại những thách thức chưa từng có, được dự báo sẽ có những tác động đáng kể đến sự phát triển nền kinh tế Việt Nam trong năm nay. Dựa trên tình hình hiện tại, chúng tôi tìm hiểu các tác động tiềm ẩn của đợt bùng phát đại dịch COVID-19 đối với kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu này đi đôi với một mức độ đáng kể các yếu tố không chắc chắn. Cụ thể là, khi xảy ra đại dịch COVID-19, các dự đoán được kiểm tra lại và điều chỉnh lại mỗi tuần kể từ khi bắt đầu xảy ra đợt bùng phát đại dịch.

Tuy nhiên, triển vọng tăng trưởng trong ngắn hạn có nhiều thách thức. Rủi ro chính là đại dịch kéo dài, đặc biệt nếu tỷ lệ tiêm chủng trên toàn quốc không tăng đáng kể. Tăng trưởng cũng phụ thuộc vào việc Chính phủ kịp thời cung cấp các mặt hàng thiết yếu, như thực phẩm và tiền mặt, cho các nhóm dân cư dễ bị tổn thương đang bị ảnh hưởng bởi đại dịch.

Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc loại bỏ các rào cản hành chính đối với doanh nghiệp và người dân, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả của các biện pháp kiểm soát đại dịch và hỗ trợ sự phục hồi bền vững của nền kinh tế trong năm nay và năm tới.

4. Mục tiêu kinh tế những năm tới của nền kinh tế Việt Nam

Với mục tiêu của Đảng và Nhà nước đã đề ra, trong vòng 10 năm tới Việt Nam sẽ trở thành một nền kinh tế đang phát triển có nền công nghiệp hiện đại.

Có tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt khoảng 6.5 – 7%/năm. Đế năm 2025 GDP bình quân đầu người đạt 4700 – 5000USD/năm. Đóng góp năng suất của các thành phần tổng hợp vào tăng trưởng khoảng 45%, tỷ trọng tăng trưởng chế biến, chế tạo đóng góp trên 25%, ty lệ đô thị hóa khoảng 45%, kinh tế số đạt khoảng 20%.

Theo mục tiêu đã đề ra, vấn đề khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển. Tiếp tục thực hiện đổi mới mạnh mẽ về tư duy, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường… Kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, khơi dậy mọi tiềm năng về nguồn lực, tạo động lực mới cho sự phát triển kinh tế nhanh, mạnh và bền vững. Để thực hiện các nội dung trên cần thiết lập các giải  pháp phát triển nền kinh tế Việt Nam như sau:

- Có các giải pháp tháo gỡ tập trung vào những ngành, lĩnh vực mang tính “dẫn dắt”, đối tượng, khu vực đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước, tạo lượng lớn việc làm cho người lao động, có tác động lan tỏa, lâu dài, đang tạo nên dư địa tăng trưởng mới cho nền kinh tế, kịp thời đón đầu nhu cầu của thế giới đang dần mở cửa sau đại dịch thay vì dàn trải nguồn lực. Xây dựng Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 trên cơ sở phân tích tác động trên quy mô ngành, lĩnh vực đến từ đại dịch COVID-19, trình Quốc hội xem xét, quyết định.

- Nhanh chóng hoàn thiện và tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2021 - 2025.
- Không chủ quan với nhiệm vụ kiểm soát lạm phát; kiểm soát chặt chẽ dòng vốn đầu tư vào thị trường chứng khoán và bất động sản. Tiếp tục theo dõi sát mặt bằng lãi suất thị trường để điều hành phù hợp; xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa lợi nhuận của các ngân hàng với khó khăn của doanh nghiệp về lãi suất vay, thực hiện định hướng biên độ lãi ròng (NIM) phù hợp. Tích cực triển khai các biện pháp xử lý nợ xấu, kiểm soát, hạn chế nợ xấu mới phát sinh đồng thời với việc triển khai các giải pháp tạo điều kiện cho hệ thống tổ chức tín dụng cơ cấu lại nợ, giãn nợ hỗ trợ sản xuất, kinh doanh.
- Chú trọng các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế số, kinh tế xanh, hỗ trợ các doanh nghiệp, hợp tác xã tăng tốc độ chuyển đổi số, đổi mới mô hình kinh doanh, đổi mới công nghệ. Đẩy mạnh thực hiện Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đến năm 2030. Khuyến khích đầu tư mạo hiểm, các hoạt động nghiên cứu và phát triển trong khu vực tư nhân. Tạo dựng nền tảng vững chắc cho phát triển thương mại điện tử với ba yếu tố có tính chất quyết định là logistic, thanh toán điện tử và an ninh mạng. Khẩn trương ban hành văn bản quản lý nhà nước để tạo cơ sở cho việc triển khai trên thực tế các mô hình kinh doanh mới, sản phẩm kinh doanh mới, tiền điện tử, dịch vụ ngân hàng điện tử, công nghệ tài chính (FinTech)...
- Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực số, nhân lực có kỹ năng, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động. Nâng cao năng lực kỹ thuật số cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp siêu nhỏ. Phủ rộng internet, thuê bao di động nhiều hơn tới người dân, đặc biệt là miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Minh bạch hóa các quy tắc, quy định về quản lý dữ liệu. Nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ.
- Tiếp tục thúc đẩy triển khai các dự án đầu tư công, tập trung cho các dự án lớn, quan trọng, phát triển hạ tầng trọng điểm, có sức lan tỏa, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là các dự án liên vùng, các dự án nhằm phòng, chống và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và thảm họa thiên nhiên, các dự án chuyển đổi số quốc gia.
- Có các chính sách khuyến khích tiêu dùng nội địa, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền hưởng ứng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Sớm ban hành Nghị định quy định cách xác định sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam, sản phẩm, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam.
- Tập trung phát triển mạnh thị trường trong nước, thực hiện có hiệu quả các giải pháp kích thích tiêu dùng nội địa, tập trung kích cầu một số ngành, lĩnh vực như du lịch, bán lẻ, vận tải, lưu trú, ăn uống.
- Thường xuyên theo dõi, cập nhật, đánh giá tình hình và dự báo xu hướng thương mại quốc tế. Triển khai có hiệu quả Kế hoạch thực thi các hiệp định thương mại tự do nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, nhất là các thị trường còn nhiều dư địa, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và hiệp định thương mại tự do mới ký kết hứa hẹn tạo ra những thay đổi lớn trong định hình chuỗi cung ứng; tận dụng cơ hội từ các xu hướng kinh tế thế giới, đồng thời chủ động ứng phó với các ảnh hưởng tiêu cực bởi cạnh tranh thương mại và xung đột thương mại.

5. Kết luận

Với những thành tựu đã và đang đạt được, đồng thời xác định được các cơ hội và thách thức sẽ là cơ sở để Việt Nam nắm bắt các cơ hội, vượt qua được khó khăn để tiếp tục đẩy mạnh và xây dựng nền kinh tế Việt Nam hiện nay ngày càng phát triển và xây dựng được một vị thế vững chắc cùng các nền kinh tế lớn trên thế giới. Với mục tiêu đề ra trong năm 10 năm tới, chúng ta có nhiều kỳ vọng trong công cuộc đổi mới đất nước và một nền kinh tế phát triển hơn trong tương lai.

 Từ khóa: kinh tế, hệ thống

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây